Chống sét nhà ngoại thành Hà Nội khác nội thành thế nào?
Mật độ sét ở nội thành và ngoại thành Hà Nội không chênh nhau nhiều: Phụ lục E của TCVN 9385:2012 ghi trạm Hà Nội 8,9 và trạm Sơn Tây 9,1 lần sét/km²/năm. Cái khác nằm ở mức phơi ra. Nhà vườn, nhà xưởng ở vùng đồi Ba Vì, Sóc Sơn, phía tây Thạch Thất thường đứng trống, cao hơn xung quanh, mái tôn rộng, nằm trên đất đồi khô hoặc lẫn đá ong. Vì vậy chúng dễ bị đánh trúng hơn và khó làm tiếp địa hơn nhà phố nằm lọt giữa dãy nhà.
Mật độ sét không phải điểm khác chính
Bản đồ mật độ sét Việt Nam in trong TCVN 9385:2012 (số liệu của Viện Vật lý địa cầu) cho thấy cả vùng Hà Nội nằm trong cùng một dải. Nếu chỉ nhìn mật độ, nhà ở Hoàn Kiếm và nhà ở Ba Vì có "lượng sét trên đầu" gần tương đương. Vì thế câu "ngoại thành nhiều sét hơn" là chưa chính xác. Chính xác hơn là: cùng lượng sét đó, nhà ngoại thành ở vị trí dễ hứng hơn.
Tiêu chuẩn tính mức phơi ra như thế nào
Điều 7 của tiêu chuẩn nhân xác suất sét đánh với các hệ số điều chỉnh. Hai hệ số làm nhà ngoại thành khác hẳn nhà phố:
- Hệ số D, mức độ cách ly (Bảng 8): nhà nằm giữa khu nhiều nhà, cây cao tương đương lấy 0,4; khu ít nhà lấy 1,0; nhà đứng hoàn toàn trơ trọi hoặc cách xa ít nhất hai lần chiều cao công trình, cây xung quanh lấy 2,0.
- Hệ số E, địa hình (Bảng 9): đồng bằng, trung du lấy 0,3; vùng đồi lấy 1,0; núi cao 300 đến 900 m lấy 1,3.
- Hệ số B, kết cấu và mái (Bảng 6): nhà bê tông cốt thép mái không phải kim loại lấy 0,4; nhà tường xây mái tôn lấy 1,7.
Nhà phố nội thành thường gặp gì
- Sét lan truyền nhiều hơn sét đánh trực tiếp: nhà nằm lọt giữa dãy ít bị đánh trúng, nhưng xung sét vẫn theo đường điện, cáp mạng, cáp truyền hình vào nhà. SPD ở tủ điện là phần không nên bỏ.
- Nhà cao hơn hẳn dãy bên cạnh: tum thang, bồn nước, cột anten nhô cao hơn xung quanh thì hệ số A tăng từ 0,3 lên 0,7 theo Bảng 5.
- Mặt bằng chật, khó đóng cọc: có thể phải khoan sâu, tận dụng móng bê tông cốt thép khi đo kiểm được, hoặc dùng chung mạng nối đất với tòa nhà theo thiết kế.
Nhà vườn, nhà xưởng ngoại thành thường gặp gì
- Đứng trống, mái tôn rộng: là trường hợp hệ số D, E, B cùng cao. Kim thu sét và dây thoát sét thường cần thiết hơn, số dây thoát phải đủ theo chu vi mái.
- Cây cao sát nhà: Điều 21 khuyên nếu cây cao hơn nhà thì khoảng cách từ nhà tới phần cao nhất của cây nên ít nhất bằng nửa chiều cao nhà; không đạt thì cần xét bảo vệ cho nhà phù hợp.
- Đường dây điện, cáp mạng trên không đi dài qua vùng trống: dễ nhận xung sét từ xa hơn, nên SPD đầu nguồn càng quan trọng.
- Đất đồi khô, đá ong: điện trở suất cao, một vài cọc ngắn thường không đạt, cần đo đất trước và có thể phải làm mạch vòng, thanh hướng tâm hoặc cải tạo đất.
- Chuồng trại, vật nuôi: Phụ lục B.1.1 lưu ý chênh lệch điện áp trên mặt đất quanh bãi cọc nguy hiểm cho động vật chỉ từ vài trăm vôn, nên bãi cọc không đặt sát chỗ nhốt gia súc.
Chọn giải pháp theo vị trí, không theo địa danh
Cùng ở huyện ngoại thành nhưng nhà nằm trong làng đông đúc thì gần với trường hợp nhà phố; ngược lại, nhà phố nội thành mà cao vượt hẳn xung quanh thì phải xét như nhà đứng riêng. Vì vậy nên đánh giá theo bốn câu hỏi: nhà có cao hơn xung quanh không, có đứng trống không, mái gì, đất ra sao. Trang chống sét Hà Nội có thông tin khu vực bên em phục vụ.
ANH TÚ khảo sát theo vị trí thật của ngôi nhà
Bên em xem độ cao so với xung quanh, cây cối, loại mái, đường dây vào nhà và đo đất tại chỗ, rồi mới đề xuất làm chống sét trực tiếp, chống sét lan truyền hay cả hai. ANH TÚ phục vụ Hà Nội, Phú Thọ và các tỉnh miền Bắc.
Bài viết mang tính tham khảo, giúp anh chị hiểu chung về chống sét. Thông số và giải pháp cụ thể cần được xác định qua khảo sát thực tế tại công trình.
Cần kiểm tra hệ thống chống sét cho công trình của anh chị?
Gửi ảnh nhà, mái và tủ điện qua Zalo 0828 477 999 hoặc để lại số điện thoại: kỹ thuật viên xem trước, tư vấn online, khi cần mới hẹn qua đo điện trở đất tận nơi.